Thứ Năm, 19 tháng 3, 2009

My new bike

Tình hình là suy thoái kinh tế thế giới đã tới thăm nhà mình. Hay nói chính xác hơn là nó xoẹt qua cổng nhà mình. Đúng lúc mình vừa dắt xe đạp ra khỏi cổng thì sực nhớ quên cuốn sách. Vào nhà lấy được sách quay ra thì ... Dĩ nhiên xe đạp của mình không có cánh, và mình tin nó cũng chẳng bay. Chắc chắn nó bon bon trên đường, chỉ là dưới chân một kẻ khác. Chẳng còn cách nào hơn là vào nhà lại, lấy xe máy ra đường. Mong cho anh bạn cũ của mình gặp được chủ mới tử tế hơn mình. :-(

Và đây là anh bạn mới đến hôm qua, CrossWind:


Vòng 1:


Vòng 2:

Vòng 3:


Anh chàng bảnh bao này còn được sắm thêm một chiếc vòng kim cô hiệu Master Lock sản xuất tại nước Mỹ. :-)

Dĩ nhiên thật tệ nếu mình không nhắc tới anh bạn sương gió lâu năm này của mình:

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2009

?

Chiều nay đang ăn cơm thì cô bé thu ngân xinh đẹp phăm phăm tiến thẳng về phía mình, nghiêm trang đặt lên bàn trước mặt mình một mẩu giấy như giấy tính tiền rồi quay đi để lại mùi nước hoa ngào ngạt. Nhưng trên đó không ghi giá tiền phải trả, mà như vầy:
Anh tên gì anh ở đâu năm nay anh bao nhiêu tuổi đã có vợ con gì chưa em giới thiệu anh 1 người nhé nếu được thì điện số máy này 0126678xxxx
(Nguyên văn không sót một dấu câu nào! :-))
Ai mua không tôi bán tôi cho

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2009

Tết Kỷ Sửu





Tết Kỷ Sửu

Mùng 4 từ Huế ra tới nhà thì gần chiều. Cúng đưa. Mùng 5 mùng 6 nằm nhà. Mùng 7 vào Đà Nẵng. Mùng 8 gặp mặt đầu năm. Sau đó kéo nhau vào Điện Dương.

Câu cá ...Thả lưới ...
Nướng ...
và ... nướng ...
... dzô ô ô ...

Hết Tết.

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2009

Tết Kỷ Sửu

Sáng mùng 3 vào Huế họp lớp. Chính thức là lần đầu tiên sau gần 23 năm. Kể từ khi tốt nghiệp lớp 12 năm 1986.
Xem lại vài hình cũ. Cái này ở nhà Quang Đức năm 1998 (?):
Cái này đâu đó năm 1991 (?):
Năm 1986:
Năm 1983:

Tết Kỷ Sửu

Mai vàng năm nay thưa thớt quá. Cái lạnh (phải chăng bất thường?!) khiến nụ cuộn tròn, hiếm hoi mới có bông bung ra được. Dù lá đã được vặt sớm, và vài lộc biếc sớm khoe.
Cúc vàng thì vẫn thế. Sáng 30 trước giờ đi trực.
Và bàn thờ cũng ... vẫn thế. Truyền thống len chân thời hiện đại. Tối 30 tại trạm.
Đà Nẵng bắn pháo hoa giao thừa. Gió lạnh trời trong vắt. Mình đứng trên cao mà pháo hoa tầm thấp. Sau 5 phút thì khói nhòa, không xem được nữa. Bắt đầu năm mới Kỷ Sửu bằng việc ... đi ngủ.
Sáng mùng 1 cũng ... thế.

Giao ca. Tắm rửa. Ra ga 12h30. Hết vé ngồi. Đi Đông Hà với vé nằm. Tàu trễ gần 1 tiếng. Cảm cúm nên thủ sẵn mấy vỉ thuốc cùng khăn giấy. Ngủ tới khi quá Huế. Tránh tàu ga Quảng Trị (!?). Nhảy xuống đi bộ về nhà. 18h00.

Mùng 2 mưa phùn. Lạnh. Thăm mộ. Thăm bác Linh và o Thỏn.

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2009

?

Hôm nay mây không hẳn quang nhưng trời tạnh. Chiều rỗi đạp xe một vòng quanh phố phường cũng chẳng mấy xuân. Có chăng là những băng rôn cổ động cho một chính sách mới, dù còn quá nhiều khúc mắc, thuế thu nhập cá nhân. Và những băng rôn cho một chính sách trở lại, không mới, rằng "dù gái hay trai chỉ hai là đủ". :-)
Về nhà, khoảng sân nhỏ tối của mình bàng bạc dưới ánh đèn đường. Mới ngẩng đầu lên thì thấy cái này:
Uh, cũng sắp đến ngày trăng tròn. Mà rằm tháng Chạp, mấy ai để ý đến chú Cuội cùng chị Hằng thỏ ngọc. Những ngày này hẳn Thiên đình cũng chỉ lo đón tiếp các ông bà Táo?! Nên tội nghiệp thỏ ngọc chẳng đủ xanh đủ sáng, lúc nào cũng run rẩy bị đe dọa bởi lũ gấu đen hung bạo gầm rú bao quanh.
Và thường nuốt chửng mất.

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2008

Ngồi buồn

Ngồi buồn đốt một đống rơm
Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào
Khói bay tới tận thiên tào
Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2008

Tà dương giải la y


Một ngày vui vui.

Nắng nhè nhẹ.
Lạnh se se.

Dự định mới.
Suy nghĩ mới.

Đọc thêm một bài Hán tự bài cú nữa.
Bài này Bùi Giáng tiên sinh dịch như vầy:

Tà dương giải thích xiêm y
Hoa nghiêm vi tiếu thuận tùy niêm hoa
Pháp tuyền gột bụi ta bà
Toàn phiên như thể như hà nhiên nhiên

Mình thấy khó hiểu như tiếng ... Triều Tiên (!).
Quay ra thử ngâm cứu bản tiếng Hán (?).

斜陽解羅衣
華嚴微笑自然意
法泉洗塵埃


Tà dương giải la y
Hoa nghiêm vi tiếu tự nhiên ý
Pháp tuyền tẩy trần ai

Tà dương thường được hiểu là ánh mặt trời buổi chiều. Nhưng sát nghĩa có thể hiểu là ánh nắng chiếu xiên.
Y là áo. Mà la y là áo mỏng. Chữ la này chính là "là" trong "lụa là". Lại cũng có nghĩa là lưới (!?).
Và giải thì có một nghĩa đơn giản. Như là cởi, đối lập với buộc.

Hẳn một cô thiếu nữ hớ hênh đã khiến bậc hoa nghiêm cũng phải mỉm cười (?!). Và đêm về sám tội (!!).

Thiện tai, thiện tai.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2008

Nguyễn Tuân - Đánh thơ (2)

Đêm hôm đó người ta bày cuộc đánh thơ ở nhà ông Kinh Lịch. Mọi người tụ tập ở đấy đều lấy thế làm vừa lòng. Vì, ít ra, ở đây, người ta cũng chơi bời có phần được tự nhiên hơn ở trong dinh các cụ. Ông Kinh Lịch là một người trọng cái sạch sẽ của tâm hồn, nói to cùng mọi người là ông không thu tiền hồ. Ông chỉ yêu cầu ai được thơ nhiều nhất thì nên cho người lão bộc nhà ông một số tiền nhỏ mọn để đền lại cái công nó làm dầu, làm đèn, nấu cháo và bưng điếu. Ông Kinh lại còn khẩn khoản với mọi người đừng nên làm huyên náo nhà cửa lên. Ông vui vẻ nói:
- Đã hay rằng vớ được câu thơ hay, ai mà chẳng muốn ngâm vang lên. Thứ nhất lại ngâm vang câu thơ thả mình vừa đánh trúng cái chữ hiểm hóc, thì ai mà bụm miệng được. Một người ngâm, cả làng phụ họa vào, ồn ào bằng vỡ chợ, cái đó cũng là thường tình. Nhưng, tôi xin các ngài biết cho là chúng ta ở trong thành, gần ba dinh Cụ Lớn, mình không nên làm náo động quá. Bình khe khẽ, đủ nghe với nhau thôi.
Cả một lũ con bạc lên mặt tài giỏi, nhìn ông Kinh Lịch cười hóm hỉnh và khoan thai bước vào chiếu giữa. Ông Kinh Lịch châm thêm dăm bảy cây sáp nữa đã gắn sẵn vào đế đèn đồng. Tất cả thành thử đến hơn mười cây nến, chung nhiệt độ lại để tăng bốc cái mùi thơm gắt ngát của một bình hoa rộng miệng chứa gần trăm gốc huệ trắng. Hoa huệ mãn khai cuộn cong đầu cánh trắng lại như những râu rồng và gặp tiết đêm, gặp sức nóng của nến cháy, của người thở mạnh, của hơi thở dồn vang càng hết sức nhả mùi hương. Không khí đều là huệ hết cả, có người rít mạnh mồi thuốc lào, đã lầm rằng thuốc của mình là ướp ủ bằng hoa huệ. Hơi huệ ngùn ngụt bốc lên, quyện lấy mùi dầu dừa nơi mái tóc Mộng Liên. Mộng Liên mặc chiếc áo màu hỏa hoàng ngồi ép sát vào chồng, mặc một chiếc áo lụa năm thân nhuộm màu khói nhang đột chỉ trứng rận. Ông Phó Sứ vừa gỡ túi thơ vừa hỏi làng:
- Dạ thưa, có đánh thơ cổ phong không? Và có đánh chữ chân không?
Một con bạc ít tuổi và chừng như mới tập tõng lối chơi chữ này, hỏi lại:
- Đánh thơ cổ phong? Thôi, nếu thả thơ cổ phong thì anh em ở đây đưa tiền cho ông tiêu hết. Còn đánh chữ chân là thế nào?
Ông Kinh Lịch đang nằm bên khay đèn, ngồi nhổm dậy nói chõ xuống chiếu dưới:
- Cái ông thừa nhà tôi đến hay lẩm cẩm. Đã đi đánh thơ đòi ăn tiền thiên hạ, còn hỏi lục vấn thế nào là chữ chân. Thưa ông, câu thơ bảy chữ, đem vòng chữ thứ bảy cuối cùng cho làng đánh, thế gọi là đánh chữ chân ạ.
- Nếu thế thì đánh cả chữ trắc và cả chữ bằng à? Thôi, xin làng cứ theo như lệ mọi khi mà đánh. Đây, chúng tôi không phải là thi bá, không dám đánh chữ vần, chữ chân.
Ông Phó Sứ và Mộng Liên nhìn nhau cười; vợ chồng có ý bảo thầm nhau rằng làng cũng khôn đấy nên mới không dám trêu vào lối đánh thơ hiểm hóc này.
Lá thơ đầu tiên đã ra khỏi miệng túi gấm vẫn khư khư nằm trong tay Mộng Liên. Cả làng chăm chú nhìn và ngâm ngợi và ngẫm nghĩ. Cái gì mà ".... thượng, mai khai, xuân hựu lão"? Cuối lá thơ thả, có sẵn năm chữ thả viết xương kính: tái, sơn, đình, mộ, Văn. Cả làng ngâm:
- "Vòng" thượng, mai khai, xuân hựu lão.
Vẫn lời cái ông thừa trẻ:
- Tái, sơn, đình, mộ, Văn. Ta đánh chữ tái "Tái thượng, mai khai, xuân hựu lão". Hoa mai... nở trên mặt ngọn ải... xuân lại già nữa.
Nghĩ ngợi lâu, ông thừa trẻ trở nên do dự. Thấy ông Thông phán tỉnh, người có tuổi và vốn sành về môn thơ thả, đánh chữ Văn, ông tỏ ý ngạc nhiên:
- Văn thượng, mai khai, xuân hựu lão. Quái nhỉ! Sao lại Văn?
Rồi ông thừa cứ mân mê mãi cọc tiền, không biết nên đặt chữ gì để ông Phó Sứ phải sốt tiết lên cắt nghĩa hộ cho bằng vẻ lễ phép ngụ nhiều ngạo mạn kín đáo.
- Thưa ngài, Văn là con sông Văn chảy qua đất Lỗ, quê đức Thánh Khổng. "Mai nở trên sông Văn, xuân lại già". Cụ Phán tỉnh đánh thơ như thế, câu đó ngài cho làm lạ lắm sao?
Và, xem chừng cả làng cũng không có một ai đánh thêm được đồng nào nữa, ông Phó Sứ xin làng cho phép ông được thổi lá thơ cuộn tròn để tuyên bố cái kết quả tiếng bạc đầu tiên. Ông đã nhẹ nhàng cầm lá thơ, phồng má định thổi phù một cái. Một vài người vội vàng vứt thêm tiền đặt vào mấy chữ tái, sơn, đình. Chỉ có chữ mộ là không ai đánh cả.
Mộng Liên ngồi đánh được một phần ba bản đàn Nam bình (bị kiểm duyệt mất).
Thế rồi tiếng bạc mở.
Và cả làng đều ngã ngửa ra khi đọc rõ lá thơ thả kia là câu: "Mộ thượng, mai khai, xuân hựu lão". Cả làng nhao nhao:
- Ô, cổ nhân dùng chữ ác thật. Hoa mai nở trên nấm mồ, xuân càng già. Thơ phú thế có giết người không? Ai biết đằng mô mà lần, mà đoán.
Ông Phó Sứ trước khi vơ tiền cả làng, vì không ai đánh chữ mộ, ông đã vội trình với làng một trang sách thơ mở rộng. Và tay vừa chỉ một dòng chữ in nhỏ, mồm vừa nói:
- Thưa với làng, câu này lấy ở bài Tọa phóng hạc đình của Từ Dạ.
Bao nhiêu bộ mặt tâng hẩng đều cúi cả vào trang cổ thi và ề à ngâm lại:
- "Mộ thượng mai khai, xuân hựu lão
Đình biên hạc khứ, khách không hoàn".
Hay, hay thiệt.
Ông Kinh Lịch đêm ấy thua to. Ông truyền cho người cuốn chiếu bạc và ân cần dặn vợ chồng ông Phó Sứ tháng sau có trở lại thì thế nào cũng phải tổ chức cuộc thả thơ ở ngay nhà ông cho ông gỡ lại. Ông còn nằn nì xin ông Phó Sứ làm quà cho mình tất cả những lá thơ đã dùng đánh suốt một đêm qua. Thấy nhà cái trù trừ, ông Kinh Lịch nói dỗi:
- Có cho, thì tôi giữ làm chút kỷ niệm.
Ông Phó Sứ cười, trao vào tay ông Kinh mấy chục lá thơ đã dùng đến nhầu nát rồi và thắt chặt lại miệng túi gấm còn đựng đến gần trăm lá thơ khác chưa dùng đến còn phong kín cái bí mật một chữ thơ. Rồi nhà cái nhà con chắp tay từ biệt nhau với một câu đính ước: "Cữ thượng tuần tháng sau, xin lại gặp nhau ở đây nữa".

Nhưng ngày thượng tuần tháng sau, ông Phó Sứ và Mộng Liên không trở lại. Rồi quá cữ trung tuần, rồi qua luôn cả cữ hạ tuần. Nhiều khách thả thơ đã dầy công chờ đợi vợ chồng ông như một cái bóng chim như một cái tăm cá.
Một hôm có người ở kinh ra, nói chuyện cùng ông Kinh Lịch:
- Ông Phó Sứ chết ở chân Đèo Ngang rồi. Mộng Liên giờ là người góa và đang lúng túng tìm người giữ cho cây đàn. Số là đi qua Hoành sơn quan, thấy cảnh đẹp, lòng sinh tình, hai ông mụ đã yêu nhau giữa một vùng trời nước bao la. Ngay chỗ dưới chân ngọn tường ải có chữ "Đệ nhất hùng quan" của đức Thánh tổ ngự phê ấy, ông ạ. Trúng cơn gió độc, ông Phó Sứ đã hóa ra ma chết đường. Mộ để sát ngay bên đường thiên lý. Cái giống ma trơi này, sẽ thiêng vô cùng. Rồi đây những lúc thanh vắng, những lúc trăng bãi gió ngàn, hồn ma tha hồ mà trêu ghẹo khách bộ hành vô Kinh đấy ông ạ. Cám cảnh cho lão, đâu có bậc thời sĩ quê vùng Ngũ Quảng có làm đôi câu đối điếu. Xin đọc ông nghe:
Ra Bắc vào Nam, trăng gió đề huề thơ một túi,
Lên đèo xuống ải, mây mưa đánh đổ cuộc trăm năm.